Hồi 81: Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt
Hoàng hậu Phú Sát đi thẳng vào
ngự sàng, chẳng báo hiệu để ai đó đánh thức Càn Long hoàng đế. Bỗng bà quỳ
xuống đất, rút phắt chiếc trâm cài đầu, để cho mái tóc mây xoã buông rơi tận
đất. Bà rút trong bọc ra bản "Tổ huấn" đọc vang lên giữa lúc hoàng đế đang ôm hai
gái lầu xanh ngủ miết. Hai ả này không dám nhắm mắt từ khi đi nằm, bỗng thấy
một bà có vẻ quý phái bước vào, biết rằng bà này hẳn chẳng phải bọn phi tần tầm
thường nên khẽ lay lay hoàng đế.
Hoàng thái hậu nghe lấy làm lạ bèn nói:
Hồi 82: Ai đã trói càn
long trong chuồng ngựa
Ở đất Tô Châu có một kẻ
tên gọi Ác Thiếu hoành hành bất pháp. Suốt ngày Thiếu gây tiếng thị phi khắp
chốn.
Thiếu lại còn cái bệnh hiếu
sắc. Cô gái nào có chút nhan sắc là thế nào cũng bị Thiếu cưỡng chiếm. Khắp
làng chơi đố kẻ nào dám ra tay can thiệp. Sở dĩ dám hoành hành bất pháp như vậy
là vì Thiếu ỷ thế cậy cha làm Đại đồng tổng binh, cậy trong nhà có tiền, lại
còn ỷ vào bọn em út, toàn là những tên to cao lực lưỡng, tới đâu là đòi đâm
chém ở đó, khiến ai thấy cũng phải sợ hãi. Do đó người trong vùng mới cho Thiếu
cái biệt hiệu là Tiểu Bá Vương.
Người mà Tiểu Bá Vương yêu quý
nhất là Ngân Hồng. Nói đến Ngân Hồng, thì toàn thể xóm yên hoa đều phải xin
nhường giải nhất. Lần này, Ngân Hồng được hoàng đế triệu hạnh. Nhưng nàng cậy
thế lực của Tiểu Bá Vương, nhất định không chịu tiếp giá. Thực ra tâm tình của
Ngân Hồng đã dành riêng cho một người tri kỷ khác chứ chẳng phải Tiểu Bá Vương.
Người đó là Từ Đại Hoa, con trai của quan Hàn lâm họ Từ. Hoa vốn người niên
thiếu phong lưu, mỹ mạo. Chỉ vì Tiểu Bá Vương chiếm cứ mất nhà của Ngân Hồng
nên Hoa không thể công nhiên ra vào. Tuy vậy Hồng, Hoa hai người cũng đã qua
mắt được Tiểu Bá Vương đôi ba lần để tư ước cùng nhau.
Từ Đại Hoa đem Ngân Hồng chạy
trốn, nhưng chẳng có chỗ ẩn nấp đành phải tìm tới nhà Tiểu Hồng. Trong nhà Tiểu
Hồng đang có khách xộp dám bỏ ra một lúc hàng muôn lạng để được gần nàng. Ông
khách xộp thấy Từ Đại Hoa với Ngân Hồng tình nghĩa mặn nồng, hiện lâm vào cảnh
không chốn yên thân, liền đứng ra can thiệp. Ông bảo Từ Đại Hoa:
- Các người cứ việc ở đây, có
gì mà phải sợ. Ngày mai, ta sẽ giúp người san phẳng nỗi bất bình và cho tên
Tiểu Bá Vương kia một bài học cho xem.
Tiểu Hồng thấy ông khách chịu
giúp chị mình thoát nguy, tỏ ý hết sức kính trọng. Đêm đó nàng hầu rượu, chuốc
chén cho ông khách, lại tặng ông cái đêm đầu của cuộc đời người con gái nơi
phòng the.
Ông khách xộp ở luôn ba hôm tại
nhà Tiểu Hồng. Bên ngoài, tình hình càng ngày càng khẩn trương. Tên Tiểu Bá
Vương đem theo bọn vô lại đi lùng khắp đường to ngõ cụt khiến Từ Đại Hoa trốn
biệt trong nhà, chẳng dám thò cổ ra ngoài.
Nàng Tiểu Hồng bên gối nhỏ to,
thôi thúc ông khách nọ.
Qua ngày thứ tư ông khách được
tin Tiểu Bá Vương hằng ngày lui tới uống trà tại Phiến Thạnh Sơn phòng, bèn kéo
Từ Đại Hoa thẳng tới quán này. Từ Đại Hoa hoảng hồn bạt vía toàn thân run lên
bần bật, đến nỗi ông khách phải vỗ vào ngực y mà khích lệ.
Trong quán Phiến Thạch Sơn có
một chỗ ngồi đặc biệt, đó là cái giao ỷ bọc gấm. Trước chiếc ghế giao ỷ đặt một
cái bàn, trên mặt bàn là một ấm và một chén trà bằng xứ Giang Tây màu trắng đục
quý giá. Đây vốn là chỗ ngồi dành riêng cho Tiểu Bá Vương, ấm trà chén trà này
cũng chỉ dành riêng cho mình hắn.
Một lát sau, Tiểu Bá Vương mò
tới. Từ Đại Hoa nhìn thấy sợ quá, mặt mày xám ngắt lại, hai hàm răng đập vào
nhau lập cập. Theo sau Tiểu Bá Vương còn có năm bảy tên đại hán mắt ngang mày
xếch, trong tay cầm mấy viên đạn sắt, hè nhau xông tới trước mặt Từ Đại Hoa,
hằn học nói:
- Hôm nay mi cũng dám đem thân
đến chỗ chết à? Lường gạt phụ nữ, hỏi mi tội gì? Hãy mau nộp xác để khỏi phiền
lão gia phải động thủ.
Nói đoạn Tiểu Bá Vương liền kéo
ống tay áo của ông khách nọ, ý bảo nhường chiếc ghế giao ỷ lại cho y. Nhưng ông
khách xếch ngược đôi mày, nhảy xổm xuống mặt đất, nắm lấy hai chân y xách ngược
lên rồi quăng tay một cái. Tức thì người ta chi nghe một tiếng bịch nặng nề
giữa đường phế bên ngoài: thì ra ông khách nọ đã cầm hai chân Tiểu Bá Vương
quăng qua cửa sổ, rơi bịch xuống đường. Rồi ông cũng nhẩy theo ra.
Bọn em út của Tiểu Bá Vương vội
vàng chạy lại cứu. Ông khách nọ liền nhào xuống dùng ngay người Tiểu Bá Vương
làm khi giới vung tít tứ phía, hết đập sang đông lại đánh sang tây. Tiểu Bá
Vương lấy hai tay ôm đầu kêu gào om sòm, nhưng ông khách nọ mặc kệ, cứ thẳng
tay quật lên đánh xuống túi bụi khiến bọn du côn bị một trận tơi bời hoa lá.
Thấy cái sọ của Tiểu Bá Vương
đã dập nát, máu ròng ròng, ông khách nọ cười nhạt một tiếng, chửi thề một câu:
- Cút mẹ mày đi nào!
Ông lẳng mạnh tay cho xác hắn
lăn lóc dưới đất.
Bọn đại hán thấy thần lực của
ông khách nọ, sợ quá vội ôm đầu chuồn lẹ như một lũ chuột. Lão chưởng quản
Phiến Thạch Sơn thấy gây án mạng, nhất định không cho ông khách ra đi. Ông đâu
có thèm chạy, lại còn bắt gọi chủ quán đích thân quạt nước pha trà để ông cùng
Từ Đại Hoa rung đùi thưởng thức.
Chỉ một lát sau người của cha
Tiểu Bá Vương tức viên Tổng binh quan, đích thân tới đại bản doanh lấy một ngàn
quân rầm rập chạy đến quán trà, bổ vây tứ phía, đến con kiến cũng khó lọt. Ông
gân cổ gầm lên:
- Mấy thằng đáng tù đáng chết
kia mau xuống đây thọ mạng.
Tiếng gầm của ông rung chuyển
cả ngôi quán, khiến Từ Đại Hoa bạt vía hoảng hồn, vội chui ngay xuống gầm bàn,
toàn thân run lên bần bật. Ông khách nọ thấy vậy bèn kéo Từ Đại Hoa ra khỏi gầm
bàn rồi dắt y cùng bước xuống thang lầu.
Tới giữa chừng, ông hướng về
phía bọn quan binh nói lớn:
- Chư vị bất tất phải tức giận.
Người đời thường nói "Giết người phải thế mạng". Nay ta đã
đánh chết Tiểu Bá Vương bởi vậy việc thế mạng không phải của quan phủ sở tại.
Bọn người hãy trói hai người bọn ta lại, đưa nộp cho quan phủ ngay đi.
Viên tổng binh nghe đoạn liền
sai người trói ông khách nọ và Từ Đại Hoa lại rồi đưa về nhà mình. Ông khách nọ
cũng chẳng chống cự, để mặc cho bọn lính dùng dây thừng vòng bên trái một vòng,
vòng bên phải một vòng và cứ thế vòng mãi cho, đến lúc thật chặt, Từ Đại Hoa
cũng bị trói gọn lại như ông khách nọ. Trói xong bọn lính dẫn bộ về nhà viên
quan tổng binh, chẳng khác gì dẫn dắt mấy con heo, con dê.
Viên quan tổng binh sai đem
treo cả hai người lên chuồng ngựa ở vườn sau; đợi đến khi tẩm liệm con trai
xong mới đem hai tên tù sát nhân ra để mổ ruột moi gan tế sống.
Ông khách nọ và Từ Đại Hoa bị
trói tại chuồng ngựa. Có hai thằng nhỏ giữ ngựa canh gác. Từ Đại Hoa thì cho
rằng mạng mình tới đây là đứt rồi, bất giác lệ tuôn ra ròng ròng như suối. Trái
lại, ông khách nọ thì lại nói cười tự nhiên, thường gợi chuyện, với hai tên giữ
ngựa. Chờ đến lúc một tên chạy ra góc tường đi đái, ông khách nọ liền khẽ gọi
tên kia lại gần mìn, nói nhỏ mấy câu. Tên kia nghe, cứ ngây mặt nhìn ông.
Ông khách lại nói tiếp:
- Mi đừng sợ! Nếu mi đưa tin
giùm ta, ta sẽ thương cho mi tất cả sản nghiệp cùng vợ con của lão tổng binh.
Thằng nhỏ giữ ngựa nói:
- Cái gì tôi cũng chẳng thích.
Tôi chỉ thích có cô ba tiểu thư của ông ta thôi. Cô này đẹp lắm, lại ngoan nữa!
Ông khách nọ gật đầu:
- Ư ừ! Ta sẽ cho mi cưới ngay
cô ba tiểu thư ấy.
Tên giữ ngựa nghe xong khoái
quá bèn nói:
- Được, tôi tin ông là hoàng đế
rồi. Nhưng tôi đi báo tin mà chẳng có giấy tờ gì cả, thì ai tin tôi chứ?
Ông khách nọ bèn gọi thằng nhỏ giữ
ngựa lại gần, thò tay vào trong người ông lấy ra một quả ấn nhỏ và bảo nó đem
ngay quả ấn tới nha môn quan thì thế nào cũng được tiếp đãi long trọng. Thằng
nhỏ giữ ngựa nắm được quả ấn ấy chạy như bay đi.
Giữa lúc đó, ông quan tổng binh
đang thu liệm thi thể đứa con. Ông dặn bảo mấy tên đao phủ hễ khi nào thấy thi
thể Tiểu Bá Vương được đặt vào quan tài thì lập tức xuống chuồng ngựa kéo hai
tên sát nhân lên mổ bụng moi gan tế sống.
Viên tổng binh này vốn ỷ thế
cậy công với triều đình, chẳng coi quan lại địa phương ra gì nên thường dùng án
tử hình ngay trong nhà mình; tiền trảm hậu tấu. Bọn quan địa phương có biết
cũng chẳng dám làm gì. Ông ta đã từng đánh chết một con đầy tớ, một đứa tiểu
đồng, lại bức tử một người vợ bé rồi ngang nhiên đem chôn. Những việc động trời
như vậy mà chẳng ai dám tố cáo thì thử hỏi lần này ông giết hai tên sát nhân có
cả phố làm chứng thì danh chính ngôn thuận biết mấy.
Giữa lúc trong nhà viên tổng
binh rối rắm tang ma bỗng có những thanh âm vang rộn ngoài đường. Tên gác cổng
vội chạy vào phi báo:
- Toàn thành văn võ quan viên,
trên từ tuần phủ, dưới tới huyện lệnh, tất cả đang ùn ùn kéo tới.
Viên tổng binh tưởng các quan
viên tới nhà để phúng điếu con mình, vội mặc áo đội mũ, chạy ra tiếp đón. Ông
bước tới trước mặc tuần phủ đang định cúi đầu chào thì bỗng nghe tiếng quát
"Bắt lấy nó" vang đến điếc cả tai. Tức thì có bốn tên quan trung quân
sông tới nắm ngay lấy viên tổng binh.
Ông ta vội lên tiếng hỏi:
- Bản chức phạm tội gì?
Viên quan tuần phủ chẳng thèm
trả lời, kéo ông ta chạy ra phía chuồng ngựa ở vườn sau. Bọn quan viên văn võ
vừa thấy ông khách nọ liền quỳ cả xuống. Từ Đại Hoa bị trói ở bên cạnh lấy làm
lạ, trố mắt nhìn. Viên quan tuần phủ đích thân chạy lại cởi trói cho ông khách
và gọi người cởi trói cả cho Từ Đại Hoa. Sau đó, lại thấy viên quan Tuần phủ bò
mọp xuống đất, bên cạnh đống cứt ngựa, dập đầu lia lịa nói:
- Thần đáng tội muôn thác.
Đến lúc này viên tống binh mới
biết rõ ông khách nọ chính là đương kim hoàng đế. Ông ta kinh hồn táng đởm vội
quỳ xuống đất, dập đầu lia lịa, miệng lắp bắp nói:
- Tội thần đáng chết! chỉ xin
hoàng thượng cho được toàn thây.
Càn Long hoàng đế cũng chẳng
thèm để ý tới ông ta, bước thẳng ra cổng. Bên ngoài Long dư (xe vua đi) đã sửa
soạn từ lâu Hoàng đế lên xe trở về ngự chu.
Đã bảy, tám hôm liền Thái hậu
không thấy hoàng đế, nay ngài đã trở về, bà cầm lấy tay ngài mãi chẳng muốn
buông ra, lại đôi ba lần khuyên bảo:
- Hoàng thượng ngôi cao vạn
thặng, tưởng chẳng nên vi hành xuất ngoại. Lỡ có chuyện gì bất trắc, ắt thần
dân trong thiên hạ phải mang tội với viên hoàng.
Nhiều vị quan cũng dâng sớ
khuyên can. Hoàng đế bị một phen hú vía, từ đó có ý kiêng dè phần nào. Phải cái
ngài thắc, thỏm nhớ nhung, không thể quên được Tiểu Hồng. Bởi vậy ngài ngầm sai
nội giám đem kiệu hoa lén đưa nàng về ngự chu, sớm hôm sủng hạnh. Từ Đại Hoa
cùng Ngân Hồng tuy bị một phen thất điên bát đảo, nhưng lại được hoàng đế phong
cho chức Hình bộ thị lang và cho phép đem Ngân Hồng lên kinh nhậm chức.
Càn Long hoàng đế còn hạ luôn
một lúc ba đạo thánh chỉ. Đạo thứ nhất đem chính pháp viên tổng binh và vằm
thây tên Tiểu Bá Vương. Đạo thứ nhì cách chức một loạt toàn thành văn võ quan
viên. Đạo thứ ba tịch biên toàn bộ gia sản và vợ con viên quan tổng binh đem
sung công, một phân nửa gia tài cấp phát cho thằng nhỏ giữ ngựa có công báo
tin, lại còn thưởng cho y chức Đô Ty và cho lấy cô ba tiểu thư con viên tổng
binh làm vợ.
Đến hồi này Càn Long hoàng đế
chơi bời xem ra cũng mệt mỏi chán ngán lắm rồi, ngài qua Hàng Châu giải trí đôi
chút, rồi hạ chỉ hồi loan, ngự giá về miền Đồn Châu thuộc tỉnh Sơn Đông.
Hồi 83: Vụ án loạn luân
Khi
ngự chủ về tới Đồn Châu, Càn Long bảo dừng thuyền. Bọn quan địa phương lũ lượt
kéo đến thỉnh an. Sau khi bọn họ ra đi, hoàng đế truyền cho đám phụ lão trong
làng lên thuyền. Ngài đích thân hỏi thăm nào phong tục tập quán, nào lúa gạo
mùa màng.
Giữa
lúc đang hỏi han, ngài bỗng thấy một nhà sư già dắt một đứa bé trai độ năm sáu
tuổi lên thuyền, quỳ xứng và dập đầu mãi không thôi. Người trên thuyền thấy
vậy, ai cũng lấy làm lạ. Càn Long hoàng đế cho viên thái giám tổng quản bước
tới hỏi. Nhà sư già bèn nói:
- Bần tăng tên gọi Viên Châu.
Năm đó Tứ hoàng tử Đa La Lý Đoạn quận vương Vĩnh Thành vốn chơi thân với bần
tăng. Khi quận vương còn tại thế, bần tăng thường được triệt vào trong phủ đàm
kinh thuyết đạo. Nay quận vương đã chết, bần tăng bèn xuất kinh trụ trì tại
chùa Minh Thánh thuộc Đồn Châu. Em bé này chính là con đẻ của quận vương và tức
cũng là cháu đích tôn của đương kim hoàng đế. Chỉ vì cảnh gia biến nên phải lưu
lạc bên ngoài và bần tăng đã thu dưỡng lâu nay. Vừa lúc nghe nói thánh giá tuần
du qua đây, bần tăng trộm nghĩ em bé này là quý tử long tôn, không nên bỏ rơi
bên ngoài. Bởi vậy bần tăng đem em bé này giao lại để hoàng thượng đưa em về
kinh, khỏi phụ niềm giao tình với quận vương năm trước!
Câu chuyện này tới một cách ly
kỳ đột ngột, viên thái giám tổng quản nghe nói cậu bé nọ là hoàng tôn, nên
chẳng dám chậm trễ vội chạy vào tâu rõ với hoàng thượng. Càn Long hoàng đế nghe
xong cũng lấy làm kỳ lạ hết sức. Ngài liền truyền cho cậu bé nọ bước vào trong
khoang. Ngài để ý cậu bé thấy mặt to, tai lớn, cử chỉ ung dung, ăn nói đàng
hoàng nên nhất thời cũng chẳng phân biệt được thực hay giả. Ngài bèn truyền chỉ
đưa cậu bé và cả nhà sư nọ về kinh để xét hỏi.
Khi về tới kinh. Ngài bèn giao
việc này cho Hoà Khôn.
Khôn trở về phủ, trước hết đem
cậu bé ra hỏi. Cậu bé, với một giọng rõ ràng rành mạch, nói:
- Từ lúc nhỏ tôi được nuôi nấng
trong chùa của Hoà thượng Viên Châu, nhận người là cha đẻ. Đến khi lên năm, hoà
thượng Viên Châu lúc đó mới nói cho biết rằng tôi vốn là con của quận vương Đa
La Lý Đoan. Chỉ vì là con của Trắc phúc tấn (vợ bé của quận vương đời Thanh)
nên Đại phúc tấn (bà vợ cả) lúc nào cũng tìm cách giết tôi. Do đó hoà thượng
Viên Châu mới đem tôi về nuôi dưỡng tại chùa. Nghe hoà thượng nói như vậy, tôi
biết rằng mình chính là hoàng tôn (cháu nội Đương kim hoàng đế) cho nên thường
nói với người cho tôi lên kinh để được gặp Hoàng tổ phụ. Nhưng hoà thượng Viên
Châu gạt đi và bảo: chôn chín bệ sâu thẳm làm sao mà tới được, cần phải đợi
hoàng thượng Nam tuần lần sau, đến Đồn Châu, lúc đó người mới đưa tôi đi được.
Nay Hoàng tổ phụ dẫn tôi tới kinh rồi, vậy xin nhờ quý đại thần giúp tôi tâu rõ
lên hoàng thượng giùm để cho tôi về nhà.
Hoà Khôn nghe nói một thôi lại
nhìn thần sắc của cậu bé, nhất thời không đoán ra thực hay giả. Khôn đành giữ cậu
bé lại trong phủ. Đến lượt hoà thượng Viên Châu, Khôn cho gọi vào để hỏi. Nhà
sư liền nói:
- Lúc còn sinh thời, quận vương
coi bần tăng như một người tri kỷ. Ngài thường truyền cho bần tăng vào phủ đàm
đạo tham thiền, đánh cờ, uống rượu. Ngài lại đem những chuyện trong nhà ra nói
với bần tăng. Nguyên lai quận vương có hai bà phúc tấn: một là Chính phúc tấn,
hai là bà Trắc phúc tấn. Bà Chính vốn con gái Phong bối lặc, mặt mày tuy xinh
đẹp nhưng tính tình hết sức tàn ác. Bà Trắc tên gọi Bích Ngọc, con nhà thường
dân, hay bị bà Chính ngược đãi. Quận vương thấy thế nhiều lúc khuyên can, nhưng
chẳng những chẳng được gì mà còn bị bà Chính nhục mạ ngay vào mặt. Do đó quận
vương hết sức bực tức và chỉ biết thở than với bần tăng. Bần tăng chỉ biết
khuyên quận vương nên nhẫn nhịn là hơn, trước những việc nơi khuê phòng. Vài
năm sau Trắc phúc tấn sinh hạ công tử. Chính phúc tấn biết chuyện, lại càng căm
thù ghét. Bà nhè lúc quận vương có việc phải đi xa bèn bảo một con a hoàn lẻn
bế cậu bé ra khỏi phủ, ý muốn ném ra ngoài đồng hoang bỏ cho chết đói. May thay
lúc đó bần tăng vừa tới cổng phủ thấy thế bèn cầu xin con a hoàn cho đem cậu bé
về chùa cạo đầu đi tu làm một chú tiểu. Con a hoàn quay vào nói với bà Chính
thì bà ta cũng ưng chịu nên một mặt bảo bần tăng lén bế đem đi rồi báo với Tôn
nhân phủ (chuyên coi việc của gia tộc nhà vua) rằng cậu bé đã chết vì lên đậu.
Rồi đến Trắc phúc tấn cũng bị bà Chính đuổi đi mất. Đến khi trở về, quận vương
chẳng thấy hai mẹ con bà Trắc đâu, liền nổi uất, hộc máu ra chết tươi. Bần tăng
nghĩ rằng hậu thân của quận vương chỉ còn cậu bé này, nó lại còn là cháu đích
tôn của hoàng thượng, cho nên mới trả về để cho cốt nhục được đoàn viên. Bần
tăng vốn giao hảo với quận vương, tuyệt nhiên không cô một ý nghĩ tham lam nào
khác, mà chỉ xin đại nhân sớm soi xét minh bạch để bần tăng lại được trở về
chùa.
Hoà Khôn được khẩu cung của hai
người vội chạy vào cung tâu lại. Càn Long hoàng đế thấy nhà sư thuật lại bản án
cũ, trong lòng có đôi phần bối rối, vội chạy vào trong thâm cung bàn tính với
Xuân A Phi.
Nguyên Xuân A Phi chính là đại
phúc tấn của Đại La Lý Đoan quận vương nay đã được hoàng đế đem về và phong cho
làm phi tử để trong thâm cung, hết sức sủng ái. Vào lúc đầu Tôn nhân phủ tấu
báo Vĩnh thành quận vương sinh hạ một cậu công tử thì Càn Long hoàng đế mừng
lắm. Sau được tin công tử bị lên đậu mà mất thì ngài cũng rất lấy làm buồn,
Ngài nghĩ tới cảnh hoàng tự (con nối dài của vua) đơn chiếc, nên cho gọi quận
vương vào cung hỏi hoàng tôn bị lên đậu mất như thế nào. Vĩnh Thành quận vương
hồi tấu là khi hoàng tôn chết thì vương có việc phải đi xa, sự thực như thế nào
vương không được thấy rõ, nên không dám tâu bừa và chỉ có nàng Xuân A mới biết
chuyện cặn kẽ. Đến khi Đại phúc tấn của quận vương Vĩnh Thành được truyền vào
cung, Càn Long hoàng đế thoạt nhìn thấy đã ngây người ra. Đại phúc tấn mặt hoa
da phấn, cử chỉ phong lưu, quả là một trang giai nhân tuyệt thế. Khi nói
chuyện, miệng lưỡi nàng vô cùng lanh lẹn, môi cười mắt liếc, càng làm cho vị
phong lưu thiên tử thần hồn điên đảo, lạc vào mê hồn trận. Càn Long hoàng đế
thấy tiếng nói giọng cười của nàng y hệt như của người đẹp Hương phi thuở nọ,
thế là ngài quên luôn cả danh phận nàng dâu bố chồng, tự nhiên đâm ra yêu
thương nàng một cách tha thiết.
Đại phúc tấn Xuân A vốn là một
người đàn bà thông minh xảo quyệt, thấy hoàng đế có thái độ như vậy liền tung
ngay thủ đoạn mê hồn ra. Nàng đưa một đường xảo ngữ hoa ngôn, nhoẻn cười liếc
mắt, chỉ trong chốc lát đã nắm gọn hoàng đế trong tay mình.
Càn Long hoàng đế nghe Xuân A
nói đoạn bèn bảo với Quận vương:
- Cô nàng dâu này của trẫm nói
chuyện quả hay thật. Nàng giống hệt như Anh Kha ở trong cung khiến mọi người
quên cả mệt mỏi khi trò chuyện. Ngươi hãy cho nàng vào cung, thái hậu đang
thiếu một người bầu bạn chuyện trò cho bà được vui vẻ, tiêu khiển, được thế
trẫm cũng tỏ ra là người con hiếu thảo, và ngươi cũng là một đứa cháu ngoan.
Vĩnh Thành quận vương tuy biết
rõ hoàng đế không có ý tốt, nhưng chẳng còn nói cách nào, đành để Đại phúc tấn
của mình ở lại trong cung, lùi lũi trở về nhà. Thế rồi vương nghĩ tới cảnh con
chết vợ xa, trong lòng buồn bã chẳng vui. Chẳng mấy hôm, Vương sinh chứng thổ
huyết, hộc máu ra rồi chết.
Sau khi Vĩnh Thành quận vương
chết, nàng Xuân A được thăng lên làm phi tử. Hoàng đế ngày ngày tìm vui hưởng
lạc bên cô nàng dâu vừa mới chết chồng, tha hồ mà đi mây về mưa.
Giữa lúc hai người đang âu
duyên mới thì hoàng tôn xuất hiện. Càn Long hoàng đế trong lòng ít ra còn nghĩ
đến thâm tình cất nhục, nên mới chạy tới bàn tính với Xuân A Phi.
Xuân A Phi một lời quyết định:
- Bệ hạ dẹp nó đi! Việc xảy ra
đã lâu, sự thể thật giả như thế nào làm sao mà biết được. Ví thử có thật đi
chăng nữa, thì rồi đây, một ngày nào đó, quận vương kế tự lớn lên, biết thiếp
còn ở trong cung, ắt đem lòng thù hận, vì mẹ báo thù. Lúc đó bên ngoài đồn đại,
hoàng thượng thế nào chả có điều phiền nhiễu. Nếu bệ hạ quyết nhận hoàng tôn,
thì xin bệ hạ cho thiếp một chết, chẳng còn mặt mũi nào hầu hạ ngài nữa.
Nói đoạn Xuân A Phi che mặt
khóc nức nở. Hoàng đế vốn hết sức sủng ái Xuân A Phi nên khi thấy nàng khóc,
ngài thấy lòng đau như cắt. Ngài vội kéo nàng vào lòng, vỗ về an ủi.
Qua ngày hôm sau, Càn Long
hoàng đế cho gọi Hoà Khôn vào cung. Ngài bỗng thay đổi vẻ mặt, hết sức lạnh
lùng nghiêm nghị, dằn mạnh từng tiếng:
- Hoàng tôn của trẫm đã chết
cách đây bảy năm. Tôn nhân phủ đã ghi rõ cả và có thể tra xét được. Bỗng ngày
nay lại có một tên hoàng tôn xuất hiện, vậy thì chuyện này ắt do gian tăng muốn
phỏng theo chuyện cũ Tống Minh để mưu cầu phú quý. Khanh nên truyền tập họp bọn
quan viên hình bộ lại, lập ngay toà án đặc biệt thẩm vấn cho rõ ràng, đừng để
cho đứa tiểu nhi quê mùa mạo nhận cốt nhục của hoàng gia.
Hoà Khôn nghe xong lời phán
đoán, lòng đã rõ ý hoàng đế. Khôn vội ra khỏi cung, tuyên bố ý chỉ của ngài.
Qua ngày hôm sau quan Hình bộ ngồi chánh thẩm, cho mời bọn quan viên Đại học
sĩ, Đô ngự sử ngồi bên bồi thẩm. Công đường thiết lập tại cửa Kiều Thanh môn.
Trong căn nhà trống không, rộng rãi về phía tả, có Hoà Khôn và Lưu Thống Huấn
hai vị đại học sĩ ngồi giữa cao chót vót. Còn hai bên thì đủ mặt nhân viên lục
bộ. Hình bộ có một vị Kính chương tên gọi Bảo Thành nói năng hoạt bát, tính
tình lại giảo hoạt. Hoà Khôn biết Thành là người biến báo nên uỷ cho làm quan
chánh thẩm, ngồi trước công án của phiên toà.
Một lát sau người ta thấy đưa vào
một nhà sư già và một cậu bé. Bảo Thành chiếu lệ đem thẩm vấn lại tung tích của
hai người một lượt rồi đứng dậy quay mặt về phía trên nói:
- Thưa quý vị đại thần, theo
nhận xét của ti chức thì vụ này có nhiều nghi vấn. Nếu quý vị đại nhân cho phép
thẩm vấn thì ti chức có thể tìm ra manh mối của vụ án này một cách đầy đủ.
Hoà Khôn nghe Bảo Thành nói như
vậy bèn sẽ gật đầu đáp ứng. Bảo Thành quay mặt lại quát lớn:
- Quân bay! Bắt tên yêu tăng
điệu ra ngoài kia mau!
Hai tên sai dịch hung dữ như
báo, tàn ác như cọp, nhảy xông vào túm cổ nhà sư già kéo thốc ra phía ngoài.
Lúc đó Bảo Thành mới thong thả bước tới giáng mạnh hai cái bạt tai vào mặt cậu
bé khiến nó sợ quá oà lên khóc.
Bọn quan viên khắp phòng thấy
thế hoảng kinh thất sắc, chỉ nghe tiếng Bảo Thành lớn tiếng hỏi:
- Mi là thằng bé nhà quê nào
nghe lời dối trá của yêu tăng dám cả gan vào chốn triều đình mạo nhận hoàng
tôn? Như thế là mi đã vào tội chết. Nếu mi không khai rõ ra đây, ta sẽ chém
phứt cái sọ cái của mi.
Nói đoạn Thành giơ cao cây đoản
đao, kề ngay cái lười sắc bén vào cổ cậu bé. Cậu bé hoảng quá, một mặt kêu rầm
lên, một mặt lắp bắp nói:
- Tôi vốn chẳng biết thế nào là
hoàng tôn. Tôi chỉ biết nhà sư là cha tôi. Lúc năm tuổi, tôi chỉ nhớ nhà sư
thường chỉ tôi bảo với nhiều người khác rằng tôi họ Lưu. Như vậy tôi vốn con
nhà họ Lưu chứ đâu có phải là hoàng tôn. Tôi chẳng biết hoàng tôn là có nghĩa
lý gì. Nhà sư có bảo tôi cứ tới nhà hoàng thượng thì sẽ được đọc sách và làm
quan, có cơm có rượu, mặc quần áo đẹp, khi ra ngoài có ngựa có xe, có người hầu
kẻ hạ. Nay các ông chẳng cho tôi cưỡi ngựa, đi xe, lại muốn cầm đao giết tôi,
tôi chẳng thèm làm hoàng tôn nữa. Xin các ông tha cho tôi ra, để tôi cùng nhà
sư trở về chùa cho sớm.
Cậu bé nói xong lại hu hu khóc
lớn. Nhiều quan viên trên công đường thấy tình cảnh đáng thương, đều muốn giúp
cậu ta tỏ nỗi oan khuất nhưng lại sợ uy thế của Hoà Khôn nên không dám nhiều
lời. Bảo Thành thấy cậu bé cung khai xong, trong lòng lấy làm đắc ý. Y liền
quay đầu, lại hướng mắt về công đường cười nói:
- Quý đại nhân nghe rõ đấy chứ?
Hắn đâu có phải là hoàng tôn mà chi là thằng bé nhà họ Lưu. Vậy ti chức thầm
vấn đã rõ ràng, xin quý vị đại nhân định án.
Lưu Thống Huấn lúc đó ngồi trên
công đường, không nhịn được nữa bèn đứng dậy nói:
- Cái án này thong thả hãy
định. Thử hỏi đứa bé vài ba tuổi dưới sự uy hiếp đó thì bảo gì mà nó chả nói.
Huống hồ, theo lời nhà sư nói thì đứa bé này mới sinh ra được vài tháng đã bị
bế ra khỏi phủ, thì thử hỏi làm sao mà biết mình là hoàng tôn hay không. Đừng
nói đứa bé này tự mình không biết chuyện mình, đến ngay cả bọn mình đây sống đã
mòn đời mà những chuyện cha mẹ sinh dưỡng ra sao cũng không biết nữa là. Cứ
theo ý kiến của bản chức thì vụ án hôm nay nếu không đem nhà sư nọ thẩm vấn thì
không được.
Hoà Khôn nghe lời Lưu Thống
Huấn nói xong lấy làm e ngại, bèn lạnh lùng nói:
- Quý đại thần nếu không sợ
phiền thì cứ xin cho truyền nhà sư nọ vào, có hề chi!
Hồi 84: Vườn Đồng Lạc trong cung cấm
Vừa
nghe lời Hoà Khôn nói xong, Bảo Thành ngồi ở phía dưới liền lên tiếng truyền
cho nhà sư vào. Bọn sai dịch tức thì đẩy nhà sư lên phía trước công đường. Cậu
bé nhìn thấy nhà sư liền giơ tay chỉ, vừa khóc vừa nói:
-
Tôi vốn thực họ Lưu tại sao lại bảo tôi mạo nhận con cháu hoàng gia để hại tôi
bị chém đầu?
Cậu bé lại kéo chéo áo nhà sư
khóc lớn. Mãi lâu, người ta chỉ thấy nhà sư tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên và quái lạ
rồi mới cất tiếng nói:
- Ngươi rõ ràng là một hoàng
tôn mà? Tại sao hôm nay ngươi lại khai đổi khẩu cung? Trước đây ta bảo với mọi
người rằng ngươi thuộc họ Lưu để che mắt thiên hạ, sợ người ta biết chuyện đó
thôi.
Bảo Thành nghe xong, không để
cho nhà sư nói thêm, giơ cao tay vỗ mạnh xuống công án, quát lớn:
- Yêu tăng đừng nói bậy! Thằng
bé kia đã tự ý cung xưng và nhận tội, ngươi còn không chịu khai ra phải không?
Nói đến đây Thành lại quát lên
một tiếng thật lớn nữa: "Dùng hình!". Tức thì bọn sai nha túc trực
hai bên tả hữu dạ ran rồi tay cầm nào côn sắt, nào roi thép loảng xoảng vang
rền tiến sát bên nhà sư. Cậu bé lại một phen hoảng hồn bạt vía, khóc rống lên
nói:
- Bọn ta đi thôi! Tôi không
muốn làm người nhà của hoàng đế nữa đâu. Người nhà của hoàng đế gì mà chỉ bị
doạ giết thế này?
Nhà sư mặt hầm hầm nổi giận,
tay chỉ về phía công đường nói lớn:
- Lũ bay là một đám gian thần,
trên thì dối vua, dưới thì ngược đãi bách tính. Lũ bay đều ăn bổng lộc của
Thanh triều, Vĩnh Thành Quận vương vốn là hoàng tử của đương kim hoàng đế có
thù oán gì với lũ bay mà lại muốn diệt hết dòng dõi của người. Ta chết rồi làm
quỉ, thế nào cũng cùng với Quận vương bắt hồn lũ bay!
Viên Châu hoà thượng nói đoạn
còn nghiến răng ken két chửi rủa bọn gian thần luôn mồm không ngớt, đến nỗi Hoà
Khôn nổi máu nóng, quát lên một tiếng lớn:
- Đánh chết thằng giặc trọc đi!
Bọn sai nha đang tính động thủ
thì Lưu Tướng quốc đã đứng dậy chạy tới chặn lại rồi nói:
- Hãy khoan! Nay bọn ta đánh
phạm bắt cung, khiến thiên hạ chê cười là bất công. Theo thiển ý của bản chức,
thì bọn ta nên đi tìm con a đầu bế hoàng tôn ngày trước nhận xem phải hay không
phải hoàng tôn, lúc đó mới nên định án.
Lúc đó trời đã về chiều, Hoà
Khôn liền hô tạm nghỉ.
Ngay đêm hôm đó, Khôn vào cung,
tâu rõ với Càn Long hoàng đế. Hoàng đế bèn truyền chỉ phàm có a đầu già nào
trong phủ quận vương đều phải tới công đường làm chứng.
Bọn a đầu già vốn được Xuân A
Phi đối xử tất cho nên qua ngày hôm sau khi cậu bé được gọi lên công đường cho
bọn này nhìn mặt thì tất cả đều nhất loạt bảo chẳng giống. Chúng còn bẩm hoàng
tôn ngày nọ gầy nhỏ mà mặt dài, trên cánh tay có nốt ruồi đỏ chứ đâu như đứa
trẻ này. Lại còn có một đứa cung rằng:
- Hoàng tôn chết năm nọ chính
do tay tôi thu liệm. Tại sao lại còn có một hoàng tôn xuất hiện nơi đây?
Một đứa khác lại cung:
- Tôi vốn là nhũ mẫu của hoàng
tôn. Chính hoàng tôn đã chết ngay trong bọc tôi mà! Điều đó quyết không lầm
được.
Bọn a đầu già, mỗi đứa mỗi câu,
khiến nhà sư đảnh phải nín lặng không thốt được lời nào nữa. Lưu Tướng quốc
ngồi phía trên biết rõ nhà sư oan uổng nhưng nghĩ chả có cách gì cứu được Một
lát sau bọn đại thần bàn tính định tội: Viên Châu hoà thượng lập tức đem chém
còn cậu bé thì đày đi xứ Y Lê.
Hôm bị đem ra hành hình, Viên
Châu hoà thượng chửi bới thậm tệ bọn hôn quân gian thần. Còn cậu bé đày đi xứ Y
Lê, dần dần lớn lên, tự biết mình đích thị hoàng tôn của đương kim hoàng đế bèn
nói cho Y Lê tướng quân biết. Vị tướng quân này lại giúp cậu bé tâu về triều.
Hoà Khôn thấy bản tấu chương,
tới thông báo cho Xuân A Phi biết. Thế là Xuân A Phi lại nũng nịu với Càn Long
hoàng đế để ngài cách chức viên Y Lê tướng quân, cho người thân thích của Hoà
Khôn là Tùng Quẩn tới thay thế. Nàng cũng muốn Hoàng đế hạ chỉ chém ngay cậu bé
nọ tại đất Y Lê. Càn Long hoàng đế mê mệt Xuân A Phi, nhất nhất mọi điều ngài
đều nghe nàng hết. Đáng thương thay đường đường một vị hoàng tôn mà kết liễu
cuộc đời chỉ vì miệng lưỡi đàn bà!
Trong cung cấm, Càn Long hoàng
đế sủng ái Xuân A Phi càng ngày càng đội mãi nàng lên tận trời xanh. Tuy rằng
ngài trong cuộc tuần du Giang Nam có đem về hai nàng Quách Giai, và Tưởng Giai
nhưng thực chẳng ai vượt khỏi Xuân A Phi. Hai nàng Quách Giai và Tưởng Giai là
người Tô Châu, tính tình hoà thuận, ăn nói lanh lẹ, lại đâm ra xu phụng Xuân A
Phi. Ngược lại Xuân A Phi cũng đối đãi tử tế với hai nàng.
Xuân A Phi vốn được nuôi dưỡng
từ nhỏ tại nơi khuê các, chưa từng được nghe chuyện bên ngoài ra sao; nay nghe
hai nàng Quách, Tưởng kể lể chuyện Giang Nam, nào là phố xá đẹp đẽ, nào là
phong cảnh xinh tươi, nào là chợ búa náo nhiệt vui vẻ thì lòng cảm thấy như
điên lên vì tò mò. Từ đó nàng cứ nói ra nói vào ý muốn cùng hoàng đế du ngoạn
Giang Nam một phen. Hoàng đế bảo nàng:
- Trẫm mới vừa ở Giang Nam về.
Nay lại đi Giang Nam e bọn quần thuần dị luận chăng!
Về sau, Xuân A Phi nghĩ ra một
kế. Nàng mè nheo với Càn Long hoàng đế cho xây cất trong vườn Viên Minh một dãy
phố buôn bán sinh hoạt theo kiểu Tô Hàng (hai tỉnh Tô Châu, Hàng Châu miền
Giang Nam). Nào là tiệm bán đồ cổ, tiệm cắt may y phục, nào là tửu lầu, trà
điếm, tất cả hàng hoá đều bày đặt trong các quán tiệm đầy đủ không thiếu thứ
gì. Các chủ tiệm cũng đều đưa từ Tô Hàng tới. Cả đến người bán hoa, người bán trái
cây tươi, người bán dưa, cũng bưng giỏ đi dọc phố để rao hàng, y như thật. Bọn
thái giám trong cung, anh nào cũng bỏ tiền ra để được làm chủ điếm. Các hoá
phẩm đều do quản lý cửa Sùng Văn cất ở các tiệm bên ngoài thành đem vào. Những
hàng này đều được ghi rõ giá cả. Hàng nào bán được thì cứ y theo giá biểu mà
trả tiền. Hàng nào không bán được thì hoàn lại chủ cũ.
Đến mồng một tháng giêng (Tết
Nguyên Đán) mở cửa vườn, hoàng đế hạ dụ cho phép các đại thần Mãn cũng như Hán
đều được vào vườn du ngoạn. Bọn quan viên lũ lượt đi xem đường phố, thấy có
thực vật, có trái cây tươi, vội giành nhau mua. Có lúc họ mời mọc nhau thành
một bọn kéo vào quán trà, tiệm rượu. Mấy anh hầu bàn lăng xăng chạy đi chạy lại
kêu gọi món ăn thức uống, chẳng khác gì các hàng quán trong thành. Cũng có lúc
hoàng đế mặc thường phục, sau lưng có mấy bà phi tần, vào phạn điếm ăn cơm. Gặp
bọn đại thần, hoàng đế cũng chỉ gật đầu, đưa mắt nhìn nhau ra hiệu chẳng khác
gì bạn hữu bình thường, đem tiểu nhị qua lại đem đồ ăn, bưng rượu, tính tiền.
Trong quán náo nhiệt tưng bừng như có hội. Hoàng đế cùng bọn phi tần nhìn thấy
cảnh vui mắt đó, vô cùng hào hứng, bất giác cười vang. Lại cũng có lúc hoàng đế
viết thiếp mời một vài người khách. Khách đó bất quá đều là những bậc đại thần
tôn thất nhàn rỗi. Họ vào quán Tây Thanh hầu rượu ngài. Cả bọn tha hồ cười nói,
múa tay rung đùi chẳng có chút gì là câu thúc bó buộc. Bọn đại thần chè chén
đến lúc hứng chí cũng bày trò thách rượu, cũng có lúc hoàng đế một mình ra
ngoài du ngoạn. Ngài vào quán rượu gọi đủ thứ, rồi cùng bọn gái thanh lâu cợt
nhả bốc hốt. Gặp khi chếnh choáng, hoàng đế bèn ôm bừa lấy mấy đứa dìu vào
phòng ngủ, tha hồ đi gió về mưa, thẳng một lèo cho tới sáng, chẳng chịu về cung
nữa. Bọn thái giám chẳng biết làm sao, đành phải đánh "vân bản" om
lên ngoài cửa phòng (Vân bản là những tấm ván đập vang lên để báo hiệu cuộc thị
sát của các quan viên trong triều. Theo qui củ trong cung thì khi nghe đánh vân
bản, tức thì ai nấy phải đứng dậy rời đi chỗ khác).
Cũng có lúc hoàng đế mời thái
hậu đi du ngoạn xem vườn. Thái hậu cải trang như một người thường, thấy trong
vườn nào bọn sơn đông mãi võ bán cao đơn hoàn tán, nào bọn thầy bói trải chiếu
gieo quẻ, cũng sà vào đám đông mà xem bói xem diễn. Xa xa bọn thị vệ lảng vảng
đó đây để báo vệ bà.
Rồi từ ngày hai mươi ba tháng
giêng cho đến ngày mười tám tháng sáu, ngày đó gọi là lễ "Đăng tiết",
hoàng đế lại cho lệnh mở cửa vườn. Ngài truyền dụ cho từ các quyến thuộc thần
dân Hán cũng như Mãn đến vợ chồng kẻ dân quê đều được vào vườn du ngoạn với ý
nghĩa "dân đều vui". Những ngày đó, hoàng đế cũng đi qua dạo lại giữa
đám quan quyền, dân chúng, cười đùa với đám gái quê, với bọn phu nhân vợ các quan
viên, hết sức vui vẻ thân thiện. Bọn thái giám muốn làm đẹp ý của hoàng đế nên
thiết lập các phòng nhỏ, đặt bày các giường nệm để ngài tuỳ ý nằm ngồi.
Cuộc vui đại chúng ấy đang tốt
đẹp, thì qua ngày thứ ba bỗng một tên đại hán xông vào trong phòng, tay cầm một
con dao nhọn, xớn xác ra vẻ đang tìm kiếm ai đó. Bọn thị vệ thấy thế, xông lên
bắt được tên đại hán, giao lại cho nha môn xét hỏi. Tên đại hán hầm hầm hất mặt
nói: "Vợ con ta vào vườn du ngoạn, bị tên hôn quân dụ dỗ vào phòng gian
dâm rồi! Ta mà tóm được hắn thì nhất quyết chẳng tha!".
Thẩm sát quan thấy tên đại hán
miệng nói toàn điều quái gở, chẳng thèm cật vấn nữa, liền tống ngay vào nhà
lao, qua hôm sau cho giết luôn. Thế rồi, từ ngày nảy ra cái án quái gở đó,
trong vườn cấm không còn bọn đàn ông được vào ra nữa.
Trong vườn Viên Minh, từ khi
thiết lập cái phố buôn bán đó thì cứ mỗi đêm vào đầu tháng giêng, việc mở cửa
cho dân chúng vào du ngoạn đã trở thành một cái lệ. Hoàng đế cùng bọn phi tần
cũng rong chơi trong vườn mãi cho hết ngày Đăng Tiết, sau đó mới thu dọn phố xá
đi hết, Càn Long hoàng đế lấy cái ý "với dân cùng vui", nên gọi khu
phố thương mại đó là Đồng Lạc viên.
Sau năm thứ nhì Đồng Lạc viên
mở cửa, trong vườn lại xảy ra một vụ án phong lưu tuyệt thú. Nguyên là tại kinh
có một vị Lễ bộ thị lang họ Trang, tuổi đã tới lục tuần. Chỉ vì bà vợ kết tóc
xe tơ chết mất, quan thị lang bèn tới xóm thanh lâu lấy ngay một ả kỹ nữ về làm
vợ. Ả tên gọi là Lại Chiêu Quân, mặt mũi xinh đẹp ra sao chẳng cần tả mà làm
gì, chỉ cần biết ả năm đó hai mươi bốn tuổi, tính tình ưa hoạt động nên rất
thích ra ngoài lang thang du ngoạn. Những nơi náo nhiệt như đền miếu, hội hè
chỗ nào chẳng có vết chân Trang thị. Quan thị lang còn có một đứa con gái với
người vợ trước. Đứa con gái này cũng đa tình lắm, lại rất ăn ý với người mẹ kế.
Mẹ con hai người thay nhau che mắt quan thị lang, suốt ngày lang thang hết phố
lớn đến đường con.
Bọn ong ve bướm lượn suốt ngày
lẽo đẽo sau gót hai mẹ con nhà này, chê đầu khen cẳng, chọc ghẹo thả cửa. Lại
Chiêu Quân tính cực dâm, chi thích cười giỡn với trai, thích được người khen
mình đẹp, bởi vậy bọn làm công trong các tiệm buôn, các quán nhậu đều bỡn cợt
với ả, miệng ghẹo tay sờ.
Cô gái vốn con nhà đại gia khuê
các, lúc đầu thấy bà mẹ kế tính tình đĩ thoã quá, bất giác mắc cỡ xấu hổ lắm,
nhưng về sau đâm quen cũng cười cợt thả cửa, chẳng còn kiêng cữ gì nữa. Ả tên
gọi Thu Quan, năm đó đúng mười tám tuổi.
Hai mẹ con Lại Chiêu Quân và
Thu Quan chơi lang thang kinh thành mãi xem chừng đã chán, bỗng một ý tưởng mới
lạ đến với họ, nghe đồn cứ một năm một lần mở hội Đồng Lạc viên ngay tại vườn
Viên Minh, cho phép quan, dân, phụ nữ vào trong du ngoạn.
Đợi đến thời "Đăng
tiết", hai mẹ con Thu Quan, dồi phấn thoa son cùng theo mọi người vào vườn
dạo chơi, hết phố này đến chợ kia, thích lắm.
Bọn thái giám dò la được lai
lịch của hai mẹ con nhà này, bèn đánh liều gợi ý gợi tình với Lại Chiêu Quân,
cuối cùng cả bọn thị vệ và các bồi bếp cũng gọi nhau tới tán tỉnh. Hai mẹ con
nhà này đã chẳng lấy làm phiền mà lại còn đắc ý lắm. Lại Chiêu Quân thích nhất
là được nghe chuyện cung cấm. Bọn thái giám và thị vệ đều chạy tới xúm xít
quanh ả, khoe mình biết lắm, hiểu nhiều; nhất là chuyện hoàng đế phong lưu, đa
tình ra sao.
Thu Quan vốn gái dậy thì, mới
mẻ tươi mát, nên anh nào anh nấy đều mê thích, đổ xô lại tán tỉnh. Thu Quan
chẳng bao giờ giận, nhiều khi còn cố ý làm vui lòng mọi người là khác.
Có một hôm, Lại Chiêu Quân ngồi
chuyện vãn với bọn thái giám trong tửu lâu. Nàng bỗng bảo:
- Nét mặt hoàng thượng bọn tôi
chỉ được nhìn phớt qua ngoài phố, chứ chưa bao giờ được rõ ràng. Ví thử được
đối diện với hoàng thượng mà nói một câu chuyện hoặc chuốc một chén rượu, thì
thật vinh hạnh biết mấy nhỉ!
Thu Quan cũng nói tiếp:
- Hoàng thượng có bộ râu đẹp
lắm. Giá tôi được vuốt một cái thì còn gì là vinh hạnh hơn!
Bọn thái giám nghe đoạn liền
nói:
- Ồ! Chuyện đó khó gì. Để khi
hoàng thượng tới, bọn tôi xin giúp hai người, thông báo tên tuổi cho ngài tâu
rằng hai nàng xinh đẹp tuyệt trần, thì thế nào ngài cũng triệu kiến ngay.
Trong bọn thái giám, lại còn có
một tên đế vào:
- Tuy nói thế, nhưng hoàng
thượng vào vườn chơi có định rõ ngày giờ nào đâu? Hôm thì đôi ba lần, nhưng lại
có khi ba, bốn hôm mới tới một lần. Như vậy, nếu hai mẹ con nàng muốn gặp ngài
thì nên ở lại trong vườn mà đợi giá. Nhưng có điều phiền là mỗi ngày ở lại
trong vườn, tiền phòng tiền cơm tốn kém lắm, làm thế nào được?
Lại Chiêu Quân vốn tính tự ái.
Hơn nữa, chồng ả lại có tiền, cứ mỗi khi gặp ai có ý chê bai ả về chuyện tiền
nong là ả nổi máu tự ái lên ngay. Lúc này cũng vậy, ả nghe nói bèn thò tay vào
trong bọc rút phăng một tập giấy bạc ném toẹt ngay ra giữa bàn, vừa bĩu môi
bảo:
- Xài một tập này có đáng là
bao. Ngươi cầm chỗ bạc này đi! Bọn tôi ở lại mười hôm trong vườn liệu có đủ
không?
Bọn thái giám thấy tập tiền, mặt
bỗng tươi hẳn lên, mắc sáng rực. Thế là chúng tung tăng chạy đi sửa soạn nào
giường nào chăn nào gối nào rượu nào thịt để cung dưỡng hai mẹ con Lại Chiêu
Quân.
Lại Chiêu Quân ở lại trong vườn
với bọn thị vệ nô giỡn tối ngày sáng đêm. Riêng Thu Quan vốn còn con gái nên
không dám quá phóng đãng. Thấm thoát đã năm ngày qua, hôm đó vào dịp Đặng tiết,
ả Chiêu Quân bỗng thấy bọn thái giám hoảng hết chạy tới bảo:
- Vạn tuế gia tới rồi! Mau sửa
soạn tiếp giá!
Lại Chiêu Quân vội kéo tay Thu
Quan bước ra ngoài, thấy một người đàn ông cao lớn mặt có ba chòm râu, bệ vệ
bước vào, phía sau có rất nhiều thị vệ đi theo.
Người đàn ông chậm rãi ngồi
xuống, quay đầu ra hiệu, thế là cả bọn thị vệ ùn ùn kéo ra. Bên trong điếm,
tiểu nhị đưa rượu thịt lên. Người đàn ông nâng ly, uống được vài tuần, lúc đó
mới vẫy tay gọi tới hai mẹ con Lại Chiêu Quân đến ngồi cạnh. Người đàn ông lên
tiếng hỏi:
- Hai nàng là người thế nào?
Lại Chiêu Quân đáp:
- Hai chị em tôi bị kẻ gian lừa
gạt, chẳng may lạc vào thanh lâu.
Câu nói vừa rồi của Lại Chiêu
Quân thật ra là của bọn thái giám mách bảo trước chứ chẳng phải tự ý. Người đàn
ông uống ít rượu nữa thì đã ngà ngà say bèn giơ tay ra ôm lấy hai mẹ con Lại
Chiêu Quân mà vuốt ve hôn hít. Thế rồi đêm đó, cả hai mẹ con đều bị người đàn
ông nọ giữ lại hầu hạ.
Lại Chiêu Quân nghĩ chắc đó là
Càn Long hoàng đế, bèn đem hết bản lãnh phòng the ra hầu hạ, mãi tới đêm khuya
mới hết những tiếng cười khúc khích trong phòng.
Càn Long hoàng đế cao hứng quá,
làm luôn một hơi ba đêm liền, đến đêm thứ tư ngài đưa ra thưởng biết bao nhiêu
là vàng ngọc lụa là. Và cũng từ đêm đó không thấy ngài tới nữa.
Hai mẹ con Lại Chiêu Quân cúng
thu xếp về nhà, khi nhìn tới số tiền chi phí lên tới hơn cả vạn lạng bạc, ả bất
giác giật mình, mặt xảm ngắt lại, vội hỏi bọn thái giám, mới được biết rằng
tiên ăn, ở tại đây đắt hơn cả trăm lần bên ngoài. Ả chỉ còn cách đem vàng ngọc
châu báu của hoàng đế vừa cho đề bù vào chỗ thiếu. Nào ngờ khi đem vàng ngọc
châu báu đó ra trị giá mới biết đều là đồ giả cả.
Về sau khi hai mẹ con Lại Chiêu
Quân về tới nhà rồi quan thị lang họ Trang (chồng Lại Chiêu Quân) mới phát giác
ra một tờ văn tự nợ trong mình vợ. Ông vội tra hỏi, ả bèn đem tài mồm loa mép
giải ra để che đậy, bảo phải mang nợ vì lo chạy chọt cho ông được thăng quan
tiến chức. Ả kể lể rằng có nhờ bà Phúc tấn nọ nói giùm với vị vương gia kia để
được đưa tới trước Vạn tuế gia. Ả đã vui lòng đáp ứng nên phải vay mượn để tạ
lễ vị vương gia đó. Thế rồi cứ mồm mép đó, Lại Chiêu Quân nói trời nói đất,
thêu dệt đủ chuyện để lấp liếm cho qua.
Trang thị lang không còn biết
cách nào hơn, mặt đành cứ thộn ra mà nghe. Nhưng Trang thị lang lại có người em
thứ tư, trong nhà thường gọi là "chú Tư". Chú Tư thấy anh mình lấy đĩ
về làm vợ đã có ý không bằng lòng, nay điều tra lại được biết chị dâu với cháu
gái mình có bao nhiêu chuyện bỉ ổi trong Đồng Lạc viên liền viết một tờ đơn tố
cáo gửi tới nha môn Kinh Triệu Doãn.
Kinh Triệu Doãn thấy đơn tố
ngay chính Hoàng đế, hoảng hồn bạt vía, chẳng dám thụ lý. Nhưng việc tố giác đã
đồ bể tùm lum ra. Một vị ngự sử họ Giang nghe được chẳng cần xét rõ trắng đen
gì, tức thì viết ra một tờ sớ tâu lên Càn Long hoàng đế, kết án bọn thái giám
lừa gái cướp vàng, tội chẳng nên tha.
Càn Long hoàng đế xem xong tờ
sớ, hết sức giận dữ. Ngài ngầm sai gọi Hoà Khôn vào cung, giao cho Khôn điều
tra và xử vụ án.
Hoà Khôn lãnh chỉ lập tức sai
bắt bọn thái giám bịp bợm tới, mặt khác cũng cho đòi bắt mẹ con Lại Chiêu Quân
vào hầu.
Hôm thẩm vấn, Hoà Khôn cho mời
các quan đại thần Mãn cũng như Hán, gọi cả Kinh Triệu Doãn cùng đến công đường
hội thẩm nghe cung. Lại Chiêu Quân khai hết mọi việc đã qua. Ả kể rõ nào là
hoàng đế gian dâm hai mẹ con ả ra sao, phá hoại đời con gái Thu Quan thế nào và
cả vụ vàng ngọc giả kia nữa. Bọn đại thần nghe thấy ả khai ngay đích danh hoàng
đế, anh nào anh nấy giật nấy mình, mặt biến sắc. Hoà Khôn vội sai người đưa Lại
Chiêu Quân ra ngoài. Song ả vốn gái lầu xanh, mồm loa mép giải đã quen đâu có
chịu, bèn bù lu bù loa lên, ngoác mãi mồm ra bảo chính hoàng đế đã gian dâm cả
hai mẹ con mệnh phụ. Còn Thu Quan ở bên canh, chỉ cứ khóc ròng.
Bọn đại thần và Hoà Khôn bèn
tính bịa ra một cái tội để trừng phạt Lại Thu Quân, bọn thái giám mấy tên thì
đem giết đi để bịt miệng còn Trang thị lang thì gán cho cai tội vu khống. Trong
khi cả bọn tính như vậy tưởng như xong chuyện, nào ngờ quan đại thần Lưu Thống
Huấn không chịu, ông nói:
- Chuyện này thiết tưởng không
nên vội vã. Trước hết, bọn ta nên vào tâu để xem ý hoàng thượng ra sao đã. Lúc
đó, nêu vụ án có chỗ đã xác đáng, thì nên trả số tiền nọ lại cho Trang thị lang
và đem tên thái giám phát vãng sung quân. Còn nếu cái án này không có dính líu
gì với hoàng thượng thì trước hết đem chém đầu mấy tên thái giám, rồi sau tịch
biên hết sản nghiệp của bọn này mà trả lại cho Trang thị lang, sau nữa mới bắt
tội Trang thị lang trị gia bất nghiêm.
Hoà Khôn đã có chủ ý từ trước
nên có ý không chịu. Thế là Lưu Thống Huấn tự mình đi thẳng vào cung điện tâu
trình.
Càn Long hoàng đế nghe có người
tố cáo mình gian dâm cả hai mẹ con mệnh phụ, bèn nói:
- Trẫm tuy rằng bất đức nên
mười mấy năm trời nay có nhiều xì xèo này nọ, nhưng thực cũng chưa dám làm điều
gì bại hoại gia phong đến thế. Cái án mẹ con Lại thị cần phải xét hỏi cho ra
đầu đuôi cớ sự. Vậy trẫm giao cho các vị đại thần Mãn cũng như Hán, lấy lẽ công
mà luận án định tội, chớ có e ngại chuyện gì.
Lưu Thống Huấn được thánh chỉ
liền đem bọn thái giám ra thẩm vấn. Bọn chúng chịu cực hình không nổi bèn khai
ra tất cả. Thì ra thấy mẹ con Lại thị nhiều tiền chúng bèn đem một hoàng đế giả
đến để lừa gạt. Khi hỏi tới hoàng đế giả đó là ai, thì bọn thái giám cho biết
đó là tên chưởng quỹ ở Tây Đại Nhái phường Lô Mã ngoại thành. Lưu Thống Huấn
liền cho đi bắt về thẩm vấn, hắn nhất nhất đều cung khai không dám giấu.
Lưu Thống Huấn định tội, đem
tên chưởng quỹ và bọn thái giám ra chém đầu đồng thời hạ định tịch biên gia sản
của bọn này để bồi thường lại cho Trang thị lang. Lưu Thống Huấn lại phát lệnh
cho hai mẹ con Lại Chiêu Quân vào nhà các công thần làm đầy tớ.
Vụ án này xảy ra xong, từ đó
trong Đồng Lạc viên không còn cho phụ nữ dân gian ra vào du ngoạn nữa.
Tháng giêng qua, Càn Long hoàng
đế chẳng có việc gì làm, bèn cùng với Xuân A Phi, Quách Giai thị, Tướng Giai
thị, ba người nô giỡn hú hí trong thâm cung suốt ngày.
Về sau Quách thị bèn tâu:
- Bệ hạ từ khi ở Giang Nam về,
tìm kiếm được bao nhiêu là vàng ngọc châu báu, hơn nữa, lại thường tưởng nhớ
tới phong cảnh hữu tình miền Giang Nam, tại sao bệ hạ không y theo thắng cảnh
miền này mà kiến trúc ngay tại trong vườn Viên Minh này, cho trưng bày hết
những châu báu vàng ngọc đó ở trong vườn, rồi bọn tiện thiếp được hầu hạ bệ hạ,
suốt ngày du ngoạn, một là để bệ hạ khuây khoả nỗi tưởng nhớ miền Giang Nam,
hai là để bọn tiện thiếp như là đã được trở về quê hương xứ sở vậy.
Càn Long hoàng đế nghe xong cao
hứng nổi lên, bèn truyền dụ cho Nội vụ phủ cùng bọn nhân viên cung phụng trong
Tây Thành quán, đem những thắng cảnh danh lam miền Giang Nam vẽ lên giấy hết để
trình cho ngài xem.
Thánh chỉ vừa ban xuống, tức
thì bọn cung phụng nhân viên bắt tay vào việc ngay. Ngày này qua ngày khác, họ
vẽ hết bức này qua bức khác gần như tất cả: nào phong cảnh Tây Hồ, nào phong
cảnh Kim Sơn, nào phong cảnh Tô Châu.
Cứ mỗi nơi một bức hoạ. Lúc đó
hoàng đế cùng với ba vị phi tử lựa chọn mãi, lấy bốn mươi bức giao lại cho Hoà
Khôn, bảo y cai quản việc xây dựng và khởi công ngay tức khắc.
Hồi 85: Oan oan tương báo
Hoà Khôn nhận được thánh chỉ, liền cho một số lớn nhân viên vào rừng núi miền Giang Nam để tìm gỗ quý, mặt khác bắt dân phu ở các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Sơn Tây để phu dịch, Khôn lại giả thác thánh chỉ quyên góp tiền bạc rồi cho người tới nhà các vị quan lại và thân sĩ địa phương để yêu sách, nếu có kẻ nào không chịu hoặc cúng tiền không vừa ý, Khôn liền bảo họ trái lệnh vua, bắt trị tội ngay. Cũng nhờ dịp này, Khôn đã trắng trợn cướp được khá nhiều tiền khiến dân chúng oán than khắp.
Hoà Khôn nhận được thánh chỉ, liền cho một số lớn nhân viên vào rừng núi miền Giang Nam để tìm gỗ quý, mặt khác bắt dân phu ở các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Sơn Tây để phu dịch, Khôn lại giả thác thánh chỉ quyên góp tiền bạc rồi cho người tới nhà các vị quan lại và thân sĩ địa phương để yêu sách, nếu có kẻ nào không chịu hoặc cúng tiền không vừa ý, Khôn liền bảo họ trái lệnh vua, bắt trị tội ngay. Cũng nhờ dịp này, Khôn đã trắng trợn cướp được khá nhiều tiền khiến dân chúng oán than khắp.
Hồi 86: Vụ án văn tự , chết cả họ chỉ vì thơ
Tên thủ hạ của Uông Như Long bị bọn thị vệ vây bắt tự thấy khó thoát, bỗng quay ngược mũi dao nhè thẳng tim mình mà đâm vào, miệng chỉ kêu được một tiếng "chao ôi!" rồi ngã quay ra đất, mắt, trợn ngược lên, chết luôn tại chỗ.
Bọn thị vệ vội chạy lại gỡ con dao ra, cởi chiếc áo ngoài của hung thủ, bỗng thấy lộ ra một bộ ngực trắng mịn với cặp vú cao vòi vọi có đôi núm danh dảnh. Cả bọn lấy làm lạ. Lột thêm cái mũ, họ lại thấy một bộ tóc mây dài đen óng như tơ. Cuối cùng lột đến đôi giày ra, họ còn thấy một đôi chân nho nhỏ xinh xinh. Thì ra một thiếu nữ tuyệt sắc chứ chẳng phải là tên thủ hạ nào của Uông Như Long.
Bọn thị vệ không dám xem thường, một mặt chạy về báo cho thị vệ trưởng biết, một mặt chạy báo cho gia đình Uông Như Long hay. Vợ Long hối hả chạy tới nhìn xem mới biết tên thích khách giết họ Uổng chẳng ai xa lạ mà chính là Tiểu Mai. Bộ quần áo nam trang nàng mặc đó chính là bộ quần áo của tên thủ hạ thân tín nhất của Uổng. Hỏi ra mới biết tên thủ hạ này đã cao bay xa chạy từ hồi nào không rõ! Người ta lại lục trong túi áo tìm ra được lá đơn kêu oan. Trong lá đơn này có kể nào Hoà Khôn vu khống gia đình họ Kháng, nào cha nàng là Dư Đại Hải muốn thay họ Kháng để báo thù, nào Uông Như Long cưỡng dâm nàng, lại còn bán đứng cha nàng ra sao, và sở dĩ nàng hạ sát Long là bởi vì: một để báo thù cho cha, hai để rửa hận cho mình. Lá đơn nói thêm Hoà Khôn là một gian thần hại nước, mong cầu hoàng thượng lập tức bắt hắn trị tội.
Bọn thị vệ đều là những tay tâm phúc của Hoà Khôn, vội đem huỷ đơn đi ngay cho chủ, rồi tâu láo với Càn Long hoàng đế rằng tên thích khách nọ tay cầm con dao nhọn xông tới phía dưới ngự lâu, ngó trước nhìn sau có ý hành thích hoàng thượng song bị Uông Như Long trông thấy chặn hắn, do đó hắn mới giết chết Uông Như Long.
Càn Long hoàng đế nghe bọn thị vệ tâu láo mà vẫn tin là thật. Bởi vậy ngài hạ chỉ truy tặng cho Long đệ nhất phẩm triều đình, còn sai Lương Thi Chính thay mặt mình tới nhà Long làm lễ "ngự tế", đồng thời cấp cho vạn lạng bạc dùng cho đám tang.
Từ khi xảy ra vụ Uông Như Long bị giết, Càn Long hoàng đế hễ đi tới đâu cũng nơm nớp đề phòng. Ngài nghĩ rằng Thanh Hà, Giang Hà cùng cả bọn mười con danh kỹ kia đều không có ý tốt cho nên ngay đêm đó đuổi ra vườn hết. Mặt khác ngài hạ lệnh cho tập hợp người ngựa rồi điều động tuần thám ngày đêm bên ngoài vườn.
Hai chị em Thanh Hà và Giang Hà đang được hoàng đế sủng ái, bỗng thấy bị đuổi ra chẳng hiểu ý tứ của ngài ra sao, nên hai nàng nũng nịu làm bộ như quyến luyến lắm không muốn đi. Ngài mới nói dối là khi nào hồi loan sẽ đem cả hai về kinh, lại vờ hỏi hai nàng sống nơi đâu thì Thanh Hà hồi tấu:
- Khuê phòng của bọn thiếp ở ngay trên bờ sông, phía dưới lều có trồng một cây liễu lớn.
Càn Long hoàng đế lại bảo:
- Bọn ngươi chờ tin ta hồi loan, khi tới Dương Châu thì treo ngay một chiếc lồng đèn đỏ lên trên lầu. Ta sẽ sai người tới đón bọn ngươi về kinh.
Hai chị em Thanh Hà thấy Càn Long hoàng đế nói vậy, mừng rỡ khôn xiết, và sau đó về ngay căn phố lầu bên sông ngày ngày chờ đợi.
Trên đường du ngoạn, Càn Long hoàng đế thường gặp phải thích khách, cho nên ngài nghi rằng lòng dân vẫn còn nhiều kỳ thị Mãn - Hán, chỉ muốn giết hoàng đế nhà Mãn Thanh để báo thù cho dân tộc Hán. Ngài lại tự nhủ cái tư tưởng báo thù rửa hận đó phần nhiều là do bọn đọc sách, tức bọn trí thức xách động mà nên. Bởi vậy muốn tra xét xem dân tâm ngay dối, yêu ghét ra sao, trước hết cần phải theo sát mấy anh chàng đọc sách đó đã.
Nghĩ vậy Càn Long hoàng đế bèn hạ chiếu cho những vùng ngài đi ngang qua, bọn sĩ tử được phép dâng thơ văn sáng tác lên để đích thân ngài xem, nếu hay sẽ thưởng tiền nếu hay tuyệt sẽ thưởng quan hàm chức tước. Chiếu chỉ vừa ban xuống thì bọn sĩ tử vọng tưởng danh lợi ùn ùn kéo tới dâng thơ, hiến văn. Hoàng đế nhận thơ và giao cho mấy vị đại thần thị tòng giỏi văn thơ duyệt xét. Tuy không có áng văn chương nào gọi là kiệt tác nhưng cũng không có câu nào tỏ ý chống đối cả
Hồi đó có một vị danh sĩ già họ Giao người Giang Âm, nhân vì công danh chẳng vừa ý bèn sáng tác một bộ tiểu thuyết tên là "Dã tấu bộc ngôn" (lời nói thẳng của ông lão nhà quê).
Họ Giao ỷ vào tài học của mình cho nên trong sách nói đủ thứ: nào là thiên văn, địa lý, nào là quân sự, nào là lễ nhạc, lịch số, nào là âm nhạc văn thơ… chẳng có thứ nào là chẳng nói tới. Nhân vật chính trong chuyện chẳng phải ai khác mà chính là ông ta đội cái tên khác đó thôi. Khì kể đoạn "Tây Hồ giết rồng" thì lời lẽ khí khái quả chẳng tầm thường, nhưng khi kể tới nàng Lý Xuân Nương nào đó thì giọng văn lại dâm đãng nhơ nhớp lạ thường.
Ông lão có một cô gái tên gọi Hàng Nương, thông hiểu chữ nghĩa lại rất thông minh. Cô Hàng thấy cha mình viết sách có nhiều chỗ phạm kỵ lại mô tả quá dâm ô thì thế nào cũng bị huỷ hoặc cấm, nên thường hay khuyên cha sửa chữa lại. Nhưng phải cái ông lão Giao, tính ngông nghênh hết sức chướng, chẳng thèm nghe con! Đã thế ông lại còn bắt Hàng Nương chép lại bộ sách của ông bằng chữ chân phương hết sức cẩn thận, và đóng thành một trăm bản, chứa trong một cái tráp. Ông chứa tại đây là để chờ khi Càn Long hoàng đế ngự giá ngang qua là sẽ đem dâng. Ngày thường có vị thân hữu nào đến nhà là y như ông đem sách ra cho họ xem, để khoe cái học rộng của mình. Trong số thân hữu đó có một vị tên gọi Kim Lang Phủ, vốn là một tay thiếu niên đọc sách, lại giàu có. Phủ thấy Hàng Nương xinh đẹp nên đã nhờ mối lái tơ ướm đôi ba lần nhưng lão Giao chê Phủ là người khinh bạc, từ chối. Phủ im lặng từ đó nhưng luôn căm giận trong lòng.
Chú ruột của Phủ tên gọi là Kim Ngẫu Phương cũng có chuyện kiện tụng lôi thôi tới cửa quan về chuyện ruộng đất với gia đình họ Giao, do đó đôi bên lại cũng có điều không thuận nhau.
Kim Lang Phủ được biết ông lão họ Giao viết bộ sách trong đó rất nhiều điều kỵ huý. Bộ sách này chính Phủ đã được đọc. Tin chắc được dịp tốt để rửa hận, Phủ liền lên nha môn của quan tri phủ Giang Âm để mật cáo. Viên tri phủ này vốn đã được mật chỉ của triều đình về việc sưu tra những trước tác phản nghịch, nay được Kim Lang Phủ cáo mật tỏ ý mừng lắm.
Thế là viên tri phủ Giang Âm đích thân tới nhà lão Giao để thăm viếng. Ông lão họ Giao có biết đâu là kế, lại còn vác cả bộ sách "Dã tẩu bộc ngôn" của ông ra để khoe nữa. Viên tri phủ thấy trên đầu sách có rất nhiều những lời khoa trương khoác lác, nhất là đoạn kể việc "giết rồng" thì rõ ràng ngụ ý giết vua rồi, bèn ngỏ lời tán tụng mấy câu lấy lệ, và quyết rằng một khi dâng sách lên hoàng đế thì thế nào cũng được thưởng. Ông lão họ Giao nghe nói lấy làm đắc ý lắm!
Hôm đó, Càn Long hoàng đế tới Giang Âm. Ông lão họ Giao mặc áo thụng dài trịnh trọng nâng cái tráp, cung kính quỳ lạy ngay bên bờ sông để dâng sách. Viên tri phủ Giang Âm đã chờ đợi trước, chỉ còn chờ trên ngự chu hô tiếng "bắt" là y hạ thủ ngay. Không ngờ khi dâng lên ngự chu, đem mở tráp ra thì tuy có một bộ sách thật nhưng bên trong chẳng có chữ nào, toàn là giấy trắng mà thôi.
Càn Long hoàng đế lấy làm lạ, truyền chỉ ra ngoài hỏi như thế nghĩa lý gì. Ông lão họ Giao lúc đó mới biết sách của mình chi toàn có giấy trắng bèn hoảng hồn bạt vía, chẳng hiểu ra sao cả, miệng méo xệch đi không còn nói được một câu nào nữa.
Càn Long hoàng đế thấy bộ tịch ông lão như vậy, cho rằng chỉ là một lão khùng bèn truyền chỉ ra ngoài quở trách vài ba câu rồi cho về. Thế là Kim Lang Phủ với viên tri phủ Giang Âm hoài công bao ngày đồ mưu lập kế hại người, rút cục suýt hại chính cả mình.
Riêng đối với ông lão họ Giao bộ sách "Dã tẩu bộc ngôn" là cả một bầu tâm huyết từ lúc còn trẻ đến lúc đời đã hầu tàn. Ấy thế mà nay một chữ cũng chẳng thấy, thử hỏi làm sao ông chẳng thương tâm. Ông ở trong nhà thở ngắn than dài, hết ngày này qua ngày khác.
Ông có ngờ đâu rằng bộ sách quý của ông đã bị chính con gái cưng của ông đánh cắp đem chứa vào trong một cái chum nhỏ, chôn kỹ trong vườn sau. Mặt khác nàng mua giấy về đóng một trăm quyển khác giống in như những quyền cũ, bỏ vào trong tráp khoá lại cẩn thận. Ấy chính nhờ cô con gái biết lo xa cô hành động khôn ngoan này mà ông đã thoát tội.
Mãi về sau, khi cha đã mất và mình đã có chồng rồi, Hàng Nương đến đào chum sách lên cất kín trong nhà nên mới còn truyền đến ngày nay, đó là việc sau xin kể vào dịp khác.
Lại nói Càn Long hoàng đế phòng người Hán phản bội, nên đã gây ra những vụ "án văn tự". Bởi thế hồi đó, ngài đã tìm ra được hai vụ - một vụ là "Hắc mẫu đơn thi" (thơ vịnh hoa mẫu đơn mầu đen), còn một vụ nữa là "Trụ lâu thi cảo". Bài thơ vịnh hoa mẫu đơn đen vốn là sáng tác phẩm của Đại học sĩ Thẩm Đức Tiềm. Tiềm tên tự là Qui Ngu, vốn một tay thơ cự phách. Càn Long hoàng đế tuy vốn liếng văn chương chẳng mấy gì, nhưng lại thích khoe mình là người văn học thường xướng hoạ thi ca với bọn đình thần. Nhưng ngài chỉ sợ mình có phen lộ tẩy, lòi cái dốt nát ra khiến bọn bày tôi cười vào mũi cho, bởi thế ngài mời hai vị đại thần luôn luôn ở cạnh để làm bài "gà" cho mình. Một người tên gọi Kỷ Hiều Phong chuyên làm văn thay cho ngài. Còn một người nữa chính là Thẩm Đức Tiềm, chuyên làm thơ. Về sau Tiềm chết đi. Lương Thi Chính thế vào chân đó. Thẩm Đức Tiềm thấy Càn Long hoàng đế coi trọng mình nên thường có vẻ kiêu ngạo, ngay cả trước mặt ngài. Cũng vì mọi việc thơ phú đểu phải nhờ Tiềm, Càn Long hoàng đế cũng bỏ qua đi, không muốn nói đến những tiểu tiết đó trái lại còn đặc biệt kính trọng là khác. Lúc sáu mươi tuổi, Tiềm vốn là một tú tài. Nhưng đến bảy mươi tuổi thì Tiềm vọt lên cái chức Tể tướng. Và đến tám mươi tuổi, Tiềm từ quan về vườn. Thế mà Hoàng đế vẫn thường còn sai người tới nhà riêng vấn an, thật là cả một điều vinh dự lớn lao cho Tiềm.
Càn Long hoàng đế có làm mười hai "Ngự chế thi tập", bèn sai đưa tới nhà Thẩm Qui Ngu để nhờ duyệt lại, và nếu cần thì sửa sang cho thơ được thập phần hoàn hảo. Thẩm Qui Ngu nhận sách, đem duyệt, chẳng thèm nể nang gì nhà vua, cứ thực mà khen chê, khiến trong tập thơ có nhiều chỗ bị phê bình quá gắt gao, với những lời lẽ rất tệ nữa, đó là chưa kể còn rất nhiều đoạn thơ bị vứt bỏ đi là khác. Khi bộ "Ngự chế thi tập" gởi trở về kinh, Càn Long hoàng đế xem lại, trong lòng thực không vui tí nào, nhưng vì nể mặt lão thần, ngài đảnh làm thinh, không nói gì cả.
Cách một năm sau, Thẩm Qui Ngu chết. Năm này cũng là năm mà Càn Long hoàng đế tuần du phương Nam , đi về ngả Tô Châu. Qua địa phương này, ngài bỗng nhớ lại họ Thẩm, bèn truyền chỉ xa giá tới phần mộ của Thẩm để tế viếng. Cũng trong dịp này, ngài xuống chỉ gọi hết con cháu của họ Thẩm đến. Ngài nghĩ bụng Thẩm Đức Tiềm tức Qui Ngu vốn là thi nhân một thời thì trong nhà tất nhiên phải có trước tác, thế là ngài liền hỏi thử xem. Đám con cháu của Tiềm thừa hưởng sự nghiệp của ông cha, quá sung sướng rồi, ngày đêm chỉ rủ nhau cờ bạc rong chơi, chẳng học hành gì cả, cho nên có biết chữ nghĩa gì nhiều đâu. Bởi thế, khi Càn Long hoàng đế hỏi tới, chúng đâu có biết gì là phạm huý hoặc không phạm huý, vội vào nhà lễ mễ đem hết mọi di cảo của ông cha ra và dâng lên.
Càn Long hoàng đế mở ra xem, thấy còn có rất nhiều bài thơ chưa được ghi vào trong thi tập, hơn nữa rất nhiều bài thơ làm thay cho hoàng đế cũng được chép vào trong, phía dưới chú thêm ba chữ "ĐẠI ĐẾ TÁC" (làm thay vua). Hoàng đế xem xong, bất giác thẹn quá hoá giận. Ngài tự nhủ: lão già này biết thơ của trẫm đã in và phát ra ngoài rồi, ấy thế mà lão vẫn còn đề chữ "làm thay" trong thi cảo này, há chẳng phải là có dụng ý phỉ báng trẫm? Lòng lúc này quả không được vui tí nào, song ngài vẫn chưa tìm ra cách để xử trí.
Nhưng đến lúc xem tới cuối sách, ngài thấy một bài thơ nhan đề là, "HẮC MẪU ĐƠN THI" (*) ngay vào bài đã hạ hai câu: "Đoạt Chu phi chính sắc. Dị chủng diệc xưng vương", thì ngài không còn giữ được bình tĩnh nữa, cả giận quát lớn:
- Chà! Tên đại nghịch bất đạo Thẩm Qui Ngu giỏi thật! Rõ ràng hắn nói trẫm đã cướp ngôi thiên tử của họ Chu , lại còn chửi trẫm là dị chủng nữa. Như thế thì làm sao trẫm nhịn được?
Thế là ngài lập tức hạ chỉ:
"Thẩm Đức Tiềm lúc sinh thời được hậu ơn của triều đình. Nay xem tới di trước, trẫm mới biết y có ý phỉ báng triều, có lòng phản loạn chống đối. Vậy trẫm hạ chỉ: quật mồ phá bia của hắn, kéo thây ma hắn trong quan ra, chém đầu răn chúng. Còn con cháu họ Thẩm nhất luận đày tới Hắc Long Giang để sung quân. Chỉ giữ lại cháu nội năm tuổi, truất làm thường dân, để nối dõi tông đường mà thôi" .
Vụ án văn tự này kết liễu thì cả một bọn văn nhân anh nào anh nấy hoảng quá, suốt ngày chỉ cúi đầu rụt cổ ngồi trong xó bếp, chẳng dám bò ra tới cổng nữa. Và cũng từ đó, chẳng anh nào đám ho he thơ phú để đem dâng ngự lãm.
Chú thích:
HẮC MẪU ĐƠN THÍ (Thơ hoa mẫu đơn đen)
Đoạt chu phi chính sắc.
Dị chủng diệc xưng vương
Có nghĩa là:
"Cướp màu đỏ thì chẳng phải là màu sắc chính
Giống quái lạ cũng xưng vương"
Trong câu thơ thứ nhất: Chu có nghĩa là màu đỏ. Hoa mẫu đơn được gọi là vua các loài hoa - mẫu đơn màu đen tức là đã bị mất đi màu đỏ. Chu còn là họ của vua nhà Minh vì thuỷ tổ triều. Minh là Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ). Câu thơ trên có ý ám chỉ nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh thì chằng phải là chính thống. Câu thứ nhì có nghĩa "giống quái lạ cũng xưng vua". Ý mỉa mai khinh ghét nhà Màn Thanh: "dị chủng" (giống quái lạ) ám chỉ nhà Mãn Thanh thuỷ giống Man rợ ở phía bắc, chứ không phải giống Hán.
Càn Long nghĩ vậy nên tức giận quá mà trừng phạt Thẩm Đức Tiềm.
Thế là viên tri phủ Giang Âm đích thân tới nhà lão Giao để thăm viếng. Ông lão họ Giao có biết đâu là kế, lại còn vác cả bộ sách "Dã tẩu bộc ngôn" của ông ra để khoe nữa. Viên tri phủ thấy trên đầu sách có rất nhiều những lời khoa trương khoác lác, nhất là đoạn kể việc "giết rồng" thì rõ ràng ngụ ý giết vua rồi, bèn ngỏ lời tán tụng mấy câu lấy lệ, và quyết rằng một khi dâng sách lên hoàng đế thì thế nào cũng được thưởng. Ông lão họ Giao nghe nói lấy làm đắc ý lắm!
Nguồn: http://vnthuquan.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét